KHÔ CÁ CHẠCH
Các ảnh trên tư liệu
Kỳ Hai
PHẦN II
ÂM THANH NHỚT NHÁP
Thưa Ông,
Có những lúc tôi nghĩ tiếng Việt không phải một ngôn ngữ theo nghĩa thông thường. Nó không chỉ là một hệ thống signifier dùng để chỉ sự vật. Nó gần vật chất hơn nhiều. Có những chữ trong tiếng Việt không cần định nghĩa mà người ta vẫn “đụng” được bằng da bằng thịt. Nghe là thấy. Không phải thấy bằng imagination kiểu văn chương, mà thấy gần như bằng xúc giác thật.
“Chạch” là một chữ như vậy.
Nghe chữ ấy là tự nhiên thấy trơn. Không ai cần giải thích. Không ai cần footnote. Không ai cần mở từ điển. Âm “chạch” tự nó đã quẫy. Nó có cái gì nhớt nhớt, trượt trượt, khó nắm. Nó không đứng yên như một danh từ sạch sẽ. Nó động. Nó lách. Nó tuột khỏi tay ngay lúc mình vừa tưởng bắt được nó. Ngay cả cái phụ âm cuối cũng làm người ta có cảm giác hụt nhẹ nơi cổ họng, như chính con cá đang trượt khỏi bàn tay dính bùn.
Đó là điều rất lạ của tiếng Việt. Âm thanh nhiều khi không chỉ là âm thanh. Nó là xúc giác. Tôi bắt đầu để ý chuyện đó từ lâu nhưng không gọi tên được. Rồi một buổi chiều nói chuyện khô cá chạch với ông Tư Râu, tự nhiên mọi thứ hiện ra rõ hơn. Có những chữ Việt Nam không hoạt động như signifier kiểu Saussure. Nó không chỉ “đại diện” cho sự vật. Nó mang luôn texture của sự vật trong âm thanh.
“Chạch” không chỉ gọi tên con cá. Nó mang luôn độ nhớt của con cá.
Giống như “lạch bạch” nghe là thấy chân vịt đập trên nền nước cạn. “Lụ khụ” nghe là thấy cái lưng già còng xuống. “Lúng búng” nghe như bong bóng nổi trong nồi nước đục. “Lẹp xẹp” nghe như đôi dép nhựa đi trên nền xi măng còn ướt. Tiếng Việt nhiều khi không mô tả sự vật. Nó tái tạo sự vật bằng âm thanh. Người nghe không cần translate trong đầu. Cơ thể hiểu trước.
Đó là chỗ tôi nghĩ tiếng Việt rất khác tiếng Pháp. Tiếng Pháp đẹp theo kiểu architecture. Nó cân đối. Nó sáng. Nó giống những dãy phố Haussmann ngoài Paris, những ban công sắt uốn đều nhau, những câu văn được đo bằng compas. Người Pháp có thể viết rất đẹp về ý niệm. Nhưng âm thanh tiếng Pháp ít khi dính bùn. Nó thanh quá. Nó đi bằng ánh sáng nhiều hơn bằng xúc giác. Ngay cả khi tiếng Pháp nói về đất, nó vẫn còn giữ khoảng cách với đất.
Tiếng Anh thì khác nữa. Nó practical. Nó cơ khí. Nó mạnh ở động tác. Nó đóng mở rất nhanh. Nó giống một hệ bánh răng cực hiệu quả. Tiếng Anh giỏi trong action, trong movement, trong velocity. Nó chạy nhanh. Nó bẻ cua nhanh. Nó cực mạnh trong kỹ thuật và vận hành. Nhưng nó ít hơi nước.
Còn tiếng Việt thì ẩm.
Đó là chữ đúng nhất.
Ẩm.
Nghe tiếng Việt giống nghe đất sau cơn mưa. Chữ nghĩa không khô hẳn. Nó còn dính nước. Nó còn dính bùn. Có lẽ vì nền văn minh này sinh ra từ đồng ruộng ngập nước nên âm thanh cũng mang thủy tính. Người Việt không sống trên đá như Hy Lạp. Không sống giữa sa mạc như Arab. Họ sống giữa phù sa, giữa những vùng đất mà chân người luôn hơi lún xuống một chút. Thành ra ngôn ngữ cũng mềm theo.
Tôi để ý những chữ cổ thuộc vùng sông nước Việt Nam thường có texture rất mạnh. “Lạch”, “rạch”, “bưng”, “biền”, “lung”, “đìa”. Chỉ cần nghe thôi là đã thấy nước đọng đâu đó rồi. Những chữ ấy không sạch. Chúng mang theo bùn trong âm vị. Người ta có cảm giác chúng sinh ra từ miệng những người đang đứng dưới nước mà nói. Chúng không hoàn toàn abstract. Chúng còn dính môi trường sống.
Có thể vì vậy mà tiếng Việt gần với vật chất hơn nhiều ngôn ngữ khác. Người Tây nhiều khi nghĩ language là abstraction. Nhưng tiếng Việt nhiều khi vẫn còn nằm rất gần vật thể. Nó chưa hoàn toàn tách khỏi thế giới cảm giác. Một đứa bé Việt Nam nghe chữ “lạch bạch” là hiểu ngay trước cả khi biết định nghĩa. Nó hiểu bằng tai và bằng chân cùng lúc. Nó nghe mà cơ thể tự động cảm được chuyển động.
Cho nên tôi bắt đầu nghĩ tiếng Việt không hoàn toàn là linguistic system. Nó là một tactile sound-field. Một trường âm thanh xúc giác. Ở đó chữ nghĩa không chỉ phát nghĩa mà còn phát texture. “Chạch” phát ra bùn. “Khô” phát ra nắng. “Lụ khụ” phát ra xương già. “Lêu nghêu” phát ra cái cao gầy lỏng khỏng. Có những chữ Việt Nam gần như chạm được.
Mà càng nghĩ càng thấy chuyện này liên quan rất sâu tới văn minh Việt Nam. Một nền văn minh quá gần thiên nhiên thường không tách âm thanh khỏi vật chất hoàn toàn. Người Việt sống cạnh nước quá lâu. Họ nghe mưa nhiều quá. Họ chèo xuồng nhiều quá. Họ đi chân đất quá lâu. Thành ra language của họ không “thoát xác” hoàn toàn như vài ngôn ngữ triết học châu Âu.
Tiếng Việt còn giữ lại phần thân thể.
Đó là điều cực kỳ quan trọng.
Người Việt nghe chữ bằng miệng, bằng tai, bằng da, bằng lòng bàn chân. Có những chữ phát âm ra là tự nhiên cơ thể co lại hay mềm xuống. “Lạnh teo” khác “lạnh”. “Nhão nhẹt” khác “ướt”. “Lẹp xẹp” khác “thấp”. Những phụ âm trong tiếng Việt mang theo cả độ ẩm của vật chất.
Tôi nghĩ đó là lý do văn chương Việt Nam nhiều khi mạnh ở atmosphere hơn abstraction. Người Việt rất giỏi làm hiện ra không khí. Chỉ vài chữ là người đọc đã ngửi được chiều xuống hay thấy hơi bùn ngoài ruộng. Một câu vọng cổ hay nhiều khi không “logic” lắm nếu dịch sát nghĩa, nhưng atmosphere thì giết người.
Có lẽ vì vậy mà BÔ bị ám bởi tiếng Việt. Nó không chịu đứng yên như một hệ thống đóng. Nó nhớt. Nó trượt. Nó quẫy. Nó giống cá chạch thật. Có khi chính bản thân tiếng Việt cũng là một con cá đáy sông. Nó sống dưới lớp bùn ký ức tập thể, lâu lâu mới quẫy lên một lần trong miệng người già, trong tiếng rao chợ chiều hay trong mùi khô nướng cuối ngày. Người ta tưởng mình đang nói chữ, nhưng thật ra đang chạm vào một lớp vật chất cổ hơn nhiều nằm dưới ngôn ngữ.
Và chỉ cần nghe chữ “chạch” thôi, nguyên lớp bùn ấy sống dậy.
Phải là người Việt, những đêm nằm nghe mưa trên mái tôn, mới hiểu tiếng Việt thật ra được xây bằng âm thanh của vật chất trước khi được xây bằng grammar. Người Việt nghe đời sống rất gần. Gần tới mức tiếng động không đứng ngoài con người. Nó nhập thẳng vào cơ thể.
Tiếng mưa miền Nam không giống tiếng mưa Paris. Mưa Paris Parc Monceau quận 8, dân nhà giàu nghe mưa rơi như một tấm màn mỏng. Mưa miền Nam, tỷ như ở Cao Lãnh, đập xuống mái tôn nghe lộp bộp, lùng bùng, rồi tràn xuống mương nghe róc rách. Chỉ cần nghe thôi là đã thấy nước chạy dưới chân nhà. Người Việt lớn lên giữa những âm thanh ấy nên language của họ không thể khô được. Nó phải mang theo nước.
Có lẽ vì vậy mà tiếng Việt đầy những chữ nghe như chuyển động vật chất. “Rớt tõm” không chỉ là rơi xuống nước. Nó làm bụng người nghe chìm xuống một chút. “Lụp bụp” nghe là thấy mưa đánh lên lá chuối. “Rào rạo” nghe như rơm khô bị vò trong tay. “Lẹp xẹp” nghe như dép nhựa đi trên sân còn đọng nước sau cơn mưa chiều. Người Việt không chỉ dùng âm thanh để mô tả thế giới. Họ dùng âm thanh để tái tạo lại va chạm giữa cơ thể và thế giới.
Có khi vì vậy mà trẻ con Việt Nam học tiếng mẹ đẻ bằng thân thể trước khi học bằng ý niệm. Một đứa bé chưa cần biết định nghĩa chữ “lạnh teo” nhưng nghe là tự co vai lại. Nghe “nóng hừng hực” là đã thấy mặt đỏ lên. Nghe “lụi hụi” là thấy bóng ai đang ngồi lom khom dưới bếp. Tiếng Việt đi thẳng vào hệ thần kinh xúc giác trước khi đi vào abstraction.
Mà càng nghĩ càng thấy chuyện này liên quan rất sâu tới nền văn minh lúa nước. Người Việt sống quá gần môi trường vật chất. Quần áo phơi ngoài sân. Bùn dính chân. Mái tôn nóng. Nước ngập hiên nhà. Ghe xuồng cạ mé sông. Đời sống chưa bao giờ tách khỏi texture. Thành ra language cũng không thể trở thành một hệ thống quá mơ hồ abstract như vài ngôn ngữ triết học châu Âu. Nó còn giữ lại tiếng động của đời sống vật lý bên trong âm vị.
Đó là lý do có những chữ Việt Nam nghe thôi đã thấy atmosphere. “Bưng biền” không chỉ là địa lý. Nó là hơi nước. “Lung láng” không chỉ là ánh sáng. Nó là mặt nước rung nhẹ lúc chiều xuống. “Lạch” và “rạch” không chỉ là waterway. Nó là tiếng nước luồn qua bùn dưới chân cầu khỉ.
Có lẽ vì vậy mà tiếng Việt rất khó dịch hoàn toàn. Vì nhiều chữ không mang nghĩa trước tiên. Chúng mang khí hậu. Mà khí hậu thì không translate được. Nó chỉ có thể được sống bên trong cơ thể người nghe.
Và chính ở chỗ ấy, chữ “chạch” trở nên kỳ lạ. Nó không chỉ là tên một con cá nữa. Nó là một mảnh âm thanh bùn nước còn sót lại từ một nền văn minh sống quá gần phù sa. Chỉ cần phát âm chữ ấy thôi, miệng người nói đã hơi trượt đi một chút như đang bước trên bờ ruộng ướt.
PHẦN III
VĂN MINH HAY BÙN ĐẤT?
Thưa Ổng,
Nói rứa chứ càng nghĩ tôi càng thấy giữa “cá chạch” và “cá trạch” có một chuyện rất lạ nằm dưới ngôn ngữ Việt Nam. Nó không còn là pronunciation nữa. Nó bắt đầu chạm tới tầng xã hội của âm thanh. Chỉ đổi một phụ âm đầu thôi mà nguyên trường khí đổi khác. Một chữ nghe còn dính bùn. Một chữ nghe đã bước lên nền gạch.
“Cá chạch” nghe dân dã hơn rõ ràng.
Nghe là thấy xuồng ghe, mương rạch, rổ cá, bùn đất miền Nam. Chữ ấy thấp hơn một chút. Đục hơn một chút. Nó không cố làm sang. Nó chấp nhận mình thuộc về vùng nước đục, vùng phù sa, vùng chân đất. Trong âm “chạch” có cái gì hơi lụi hụi, hơi bùn bã, hơi lam lũ nhưng sống mạnh. Nó giống những người đàn bà Nam Bộ quần xắn tới gối đứng dưới mé sông rửa cá lúc chiều xuống.
Còn “cá trạch” thì khác.
Nó nghe như đã mặc áo sơ mi.
Tôi không nói chữ nào đúng hơn chữ nào. Nhưng rõ ràng âm thanh cũng có giai cấp. Có những chữ khi phát ra nghe như đang đứng ngoài chợ. Có những chữ nghe như đã bước vào phòng khách. Người Việt cực kỳ nhạy với chuyện ấy dù không ai học formally. Họ tự động “nâng âm” để thay đổi social atmosphere của lời nói.
Đó là lý do ngôn ngữ Việt Nam có những chuyển động rất lạ.
“Đờn bà” thành “đàn bà”. “Ăn” thành “dùng”. “Đái” thành “đi tiểu”. “Ở truồng” thành “khỏa thân”.
Những biến đổi ấy không chỉ là vocabulary shift. Nó là class aspiration. Ngôn ngữ tự nâng cấp xã hội cho chính nó. Người nói nhiều khi không đổi chữ để chính xác hơn. Họ đổi để bước lên một tầng âm thanh khác.
Mà chuyện này thú vị ở chỗ nó xảy ra rất tự nhiên. Không ai ra luật. Không viện hàn lâm nào quyết định. Cả xã hội tự trượt âm với nhau như nước đổi dòng. Một chữ quá bùn thì dần dần bị “lau” lại cho sạch hơn. Một âm quá dân dã thì được thay bằng một âm nghe văn minh hơn.
Có lẽ “trạch” nằm trong vùng ấy.
Nó là một chữ đã được “lau”.
Không hẳn bằng ý thức, mà bằng một nhu cầu rất sâu của xã hội muốn thoát khỏi bùn đất. Người Việt suốt nhiều thế kỷ sống quá gần bùn. Quá gần ruộng nước. Quá gần nghèo khó. Thành ra trong ngôn ngữ luôn có một chuyển động âm thầm hướng lên trên. Người ta chỉnh chữ không chỉ để nói. Người ta chỉnh chữ để đi lên.
Bởi vậy tôi bắt đầu nghĩ phonetics ở Việt Nam không hoàn toàn là phonetics. Nó là xã hội học vô thức. Một phụ âm đôi khi mang theo cả lịch sử giai cấp. Âm “ch” nhiều khi nghe quê hơn âm “tr”. Giống như một đôi dép nhựa với một đôi giày da không chỉ khác vật liệu. Chúng khác social atmosphere.
Mà cái hay là tiếng Việt không bao giờ hoàn toàn giết chữ cũ. “Chạch” vẫn sống. Nó không chịu chết.
Nó nằm dưới lớp bùn ký ức tập thể, lâu lâu lại quẫy lên trong miệng một ông già Nam Bộ hay trong tiếng rao chợ chiều. Đó là chỗ tiếng Việt rất khác vài ngôn ngữ được standardize quá mạnh. Nó không xóa sạch tầng dưới. Nó giữ lại các lớp địa chất âm thanh cùng lúc.
Cho nên trong tiếng Việt nhiều khi tồn tại hai thế giới song song. Một chữ “văn kể” nằm phía trên. Một chữ “bùn đất” nằm phía dưới. Người nói trượt lên trượt xuống giữa hai tầng ấy tùy lúc, tùy nơi, tùy người đối diện.
Một ông giáo có thể nói “cá trạch” trong bài viết nhưng lúc về quê lại nói “cá chạch” rất tự nhiên. Không ai thấy mâu thuẫn cả. Vì tiếng Việt vốn không phải hệ thống đóng. Nó cho phép nhiều tầng âm thanh cùng tồn tại. Và chính sự chồng lớp ấy làm language Việt Nam có texture xã hội cực mạnh.
Có khi vì vậy mà tiếng Việt nghe rất “người”. Nó chưa bị sterilize hoàn toàn. Nó còn giữ lại dấu bùn của hành trình đi lên. Một chữ nhiều khi vừa muốn sạch vừa nhớ bùn. Vừa muốn văn minh vừa không nỡ bỏ đồng ruộng phía sau.
Đó là điều tôi thấy rất cảm động trong chữ “chạch”.
Nó giống một tầng dân gian cũ vẫn còn sống dưới lớp language hiện đại. Một phần Việt Nam chưa chịu mang giày hẳn. Một phần ký ức vẫn còn đi chân đất trên bờ ruộng chiều.
Mà càng nghĩ càng thấy chuyện ấy không chỉ nằm trong ngôn ngữ. Nó nằm trong cả lịch sử Việt Nam. Một xã hội đi lên từ bùn nước thường mang mặc cảm bùn đất rất sâu. Thành ra ngay cả âm thanh cũng bắt đầu mơ tới chuyện thoát bùn.
“Trạch” có lẽ là một giấc mơ như vậy.
Nói rứa chứ rồi tôi lại khựng lại. Vì càng đọc mấy website càng thấy loạn. Có nơi nói cá chạch với cá trạch là một. Có nơi lại nói trạch là một loại gần lươn. Có nơi taxonomy hóa dữ lắm. Có nơi dân gian hóa dữ lắm. Tự nhiên tôi bật cười. Vì con cá bắt đầu quẫy khỏi tay luôn cả mấy ông khoa học.
KHẨU KHÍ
Càng già tôi càng thấy con người nói bằng khẩu khí nhiều hơn bằng ngôn ngữ. Hai người có thể dùng cùng một chữ, cùng một grammar, cùng một dictionary, mà vẫn không thật sự nói cùng một tiếng Việt. Vì dưới chữ còn có một thứ khác sâu hơn nhiều. Một thứ khí hậu của âm thanh. Có lẽ vì vậy mà chữ “khẩu khí” rất khó dịch. Tiếng Pháp không có hẳn. Tiếng Anh cũng không có hẳn. Nếu dịch là accent thì nghèo quá. Nếu dịch là tone thì cạn quá. Vì khẩu khí không chỉ là pronunciation. Nó là cách một vùng đất đi vào miệng người. Nó chứa địa lý, giai cấp, quyền lực, tuổi tác, đời sống, và cả ký ức tập thể cùng lúc.
Một người Thanh Hóa bước vào phòng nhiều khi chưa cần giới thiệu, chỉ cần mở miệng là quê đã đi ra trước người đó. Một người Nam Bộ nhiều khi chưa nói hết câu, nước mắm với khói bếp đã hiện trong âm thanh rồi. Có những giọng nghe là thấy gió Lào. Có những giọng nghe là thấy nước ròng dưới mé sông. Mà chuyện đó không chỉ nằm ở địa lý. Nó còn nằm ở lịch sử quyền lực. Từ Thanh đi xuống Bùi Chu Phát Diệm, Ninh Bình, Nam Định, hỏi với ngã cởi áo thay nhau liên tục. “Nước lả” hay “nước lã” nhiều khi chỉ cách nhau vài cây số. Có những vùng dấu hỏi nghe như dấu ngã. Có những vùng dấu ngã nghe như dấu hỏi. Người ta nói riết rồi không còn biết đâu mới thật sự là “chuẩn”. Mà thật ra cái gọi là chuẩn nhiều khi chỉ là quyền lực của một trung tâm văn hóa trong một giai đoạn lịch sử.
Đến Hà Nội thì lại phải học nói cho chuẩn Hà Nội. Nhưng chuẩn Hà Nội là Hà Nội nào? Hà Nội ba mươi sáu phố phường xưa? Hà Nội trí thức tiền chiến? Hà Nội phát thanh quốc gia? Hà Nội television? Hay một thứ Hà Nội đã pha cả nước suốt gần một thế kỷ chiến tranh, di cư và quyền lực trung ương? Tôi nhớ nghe ông Lê Khả Phiêu nói chuyện là thấy rõ nhất. Lúc nói với người quê Thanh, giọng Thanh hiện ra liền. Mềm xuống liền. Hỏi ngã trộn nhau liền. Nhưng lúc lên television hay phát biểu kiểu trung ương, language tự đổi áo. Âm thanh kéo về một thứ Hà Nội chính thống hơn. Giống như tiếng nói biết tự mặc complet trước khi bước vào microphone.
Mà chuyện đó đâu chỉ riêng một người. Television nhiều năm qua đã tạo ra một thứ pronunciation quyền lực. Xướng ngôn viên đọc riết thành chuẩn. Cán bộ nói riết thành chuẩn. Radio phát riết thành chuẩn. Rồi cả nước bắt đầu nghe một loại tiếng Việt hơi giống nhau, như thể language đang bị hút về một trung tâm âm thanh vô hình. Nhưng càng sống lâu tôi càng thấy cái gọi là “chuẩn” nhiều khi chỉ là accent của người đang cầm microphone. Và chính ở chỗ ấy khẩu khí bắt đầu chống lại standardization.
Người ta có thể học nói “đúng” để lên television. Có thể sửa accent để đi làm. Có thể đổi pronunciation để được xem là có học hơn. Một đứa nhỏ miền quê lên tỉnh rất nhanh sẽ bỏ “dzậy” thành “vậy”, bỏ “hổng” thành “không”. Có những người sửa miệng mình gần như để đổi thân phận. Pronunciation ở Việt Nam nhiều khi không còn là language nữa. Nó là social mobility. Người ta đổi âm để bước qua một thế giới khác.
Nhưng language không dễ obedient như vậy. Tới lúc về quê, ngồi nhậu với bạn cũ, ăn cá kho, nghe mưa trên mái tôn, khẩu khí cũ tự ngoi lên lại ngay. Một ông cán bộ trung ương vẫn có thể buột miệng nói “hổng” hay “chạch” như chưa từng đi qua seminar nào hết. Đó là điều tôi thấy rất người trong tiếng Việt. Nó chưa bao giờ chịu standardized hoàn toàn. Nó luôn giữ lại những lớp phù sa âm thanh nằm dưới language chính thức. Giống một đồng bằng có nhiều dòng nước chảy song song. Trên mặt là television. Dưới đáy là tiếng chợ. Trên mặt là orthography. Dưới đáy là khẩu khí dân gian.
Có lẽ vì vậy mà tôi bắt đầu nghĩ tiếng Việt không thật sự là một language fixe. Nó giống một hệ thời tiết hơn. Một vùng âm thanh luôn đổi khí. Một pronunciation hôm nay được xem là chuẩn, vài chục năm sau có thể đã nghe cũ. Một accent từng bị xem là quê mùa biết đâu mai mốt lại thành fashionable trên TikTok hay YouTube. Language trôi liên tục như vậy. Mà cái lạ là càng bị kéo đi, nó càng giữ lại những lớp bùn cũ.
Cho nên mới có chuyện “trạch” lên television được, lên seminar được, nhưng “khô cá trạch” thì nghe không vô. Tới lúc language quay về vật chất đời sống, quay về mùi khô, mùi mắm, mái tôn, tiếng rao ngoài chợ, thì khẩu khí dân gian thắng trở lại.
“Khô cá chạch đây!”
Tiếng ấy nghe một cái là biết không phát sinh từ studio truyền hình. Nó phát sinh từ tay người treo cá dưới nắng, từ quốc lộ miền Tây, từ bến xe, từ chợ chiều, từ một nền văn minh còn dính nước phù sa. Mà nghĩ kỹ thì đúng thôi. Người ta có thể sửa accent để đi lên. Có thể sửa pronunciation để bước vào seminar. Có thể học nói “chuẩn” để lên television. Nhưng tới lúc mùi khô nướng bốc lên, language tự quay về lớp bùn gốc của nó.
Rồi tự nhiên tôi nhớ tới chuyện “hột vịt” với “trứng vịt”. Ngoài Hà Nội người ta nói gì? “Trứng vịt” hay “hột vịt”? Có nơi nói cái này. Có nơi nói cái kia. Có nơi cả hai cùng sống chung. Tùy generation. Tùy village. Tùy atmosphere familiale. Tự nhiên toàn bộ hệ thống chuẩn hóa rung lên liền. Vì nếu ngay cả “chuẩn Bắc” còn trượt, còn lẫn, còn đổi vùng, đổi thế hệ, đổi intimacy, thì “chạch” với “trạch” có nghĩa lý gì đâu. Tới đó taxonomy bắt đầu sụp. Standardization bắt đầu sụp. Language quay trở về đời sống.
Và lúc ấy tôi mới hiểu khẩu khí thật ra mạnh hơn grammar rất nhiều. Grammar nằm trong sách. Khẩu khí nằm trong người. Grammar có thể được dạy. Khẩu khí chỉ có thể được sống. Nó nằm trong cách một bà già ngoài chợ gọi “hột vịt lộn”. Nằm trong tiếng rao dưới Bắc Mỹ Thuận. Nằm trong giọng Thanh chưa chịu bỏ dấu hỏi dấu ngã. Nằm trong cái “hổng” một ông già buột miệng nói ra lúc quên mất mình đang ở television hay đang ngồi dưới mái hiên quê nhà.
Có lẽ vì vậy mà tiếng Việt không bao giờ chịu đứng yên. Nó luôn trượt, luôn đổi khí, luôn mang theo bùn đất của những nơi nó đi qua. Giống cá chạch. Và biết đâu chính cái phần chưa chịu thoát bùn ấy mới giữ cho tiếng Việt còn hơi người.
1
Mà nghĩ kỹ thì chuyện “khẩu khí” ở Việt Nam còn đi xa hơn pronunciation rất nhiều. Nó đi tới tận chuyện thân phận. Một người nhiều khi không chỉ đổi giọng để nói khác đi. Họ đổi giọng để sống khác đi. Có những đứa nhỏ từ quê lên tỉnh, chưa kịp đổi áo đã đổi miệng trước. Chúng nghe television, nghe radio, nghe thầy giáo, nghe bạn học rồi tự sửa âm của mình lúc nào không biết. Hôm trước còn “dzậy”, vài tháng sau đã thành “vậy”. Hôm trước còn “bộ hổng biết sao”, ít lâu sau đã “anh không biết à”. Có những người sửa giọng tới mức gần như muốn xóa luôn cái xóm cũ nằm trong cổ họng mình.
Mà chuyện ấy vừa buồn vừa cảm động.
Vì pronunciation ở Việt Nam nhiều khi không còn là chuyện language nữa. Nó là chuyện đi lên. Một phụ âm đôi khi mang theo nguyên một giấc mơ xã hội. Người ta sửa chữ để được xem là có học hơn, sạch hơn, tỉnh hơn, gần trung tâm hơn. Giống như một người quê lần đầu mặc áo sơ mi trắng bỏ trong quần rồi đứng hơi thẳng lưng hơn một chút. Không ai dạy. Không ai ra luật. Nhưng social atmosphere tự chỉnh cơ thể họ lại.
Có lẽ “trạch” nằm trong vùng tâm lý ấy.
Nó nghe như một chữ đã được lau chân trước khi bước vào phòng khách. Còn “chạch” thì vẫn còn đứng ngoài sân, còn dính bùn nước, còn nhớ xuồng ghe và mùi khói bếp. Nhưng cái lạ của tiếng Việt là nó không bao giờ giết hẳn chữ cũ. “Chạch” vẫn sống. Nó nằm dưới đáy language như lớp phù sa cũ nằm dưới nền xi măng đô thị. Chỉ cần gặp đúng khí hậu là nó ngoi lên lại ngay. Một quán nhậu miền Tây. Một tiếng rao ngoài bến xe. Một bà già ngoài chợ. Tự nhiên “chạch” quẫy lên, mạnh hơn mọi thứ orthography.
Nói rứa chứ rồi tôi lại khựng lại. Vì càng đọc mấy website càng thấy loạn. Có nơi nói cá chạch với cá trạch là một. Có nơi lại nói trạch là một loại gần lươn. Có nơi taxonomy hóa dữ lắm. Có nơi dân gian hóa dữ lắm. Tự nhiên tôi bật cười. Vì con cá bắt đầu quẫy khỏi tay luôn cả mấy ông khoa học.
Mà nghĩ kỹ thì chuyện đó mới đúng tinh thần tiếng Việt.
Một language sống không bao giờ hoàn toàn sạch. Nó luôn trượt, luôn lẫn, luôn đổi khí, đổi vùng, đổi tầng xã hội, đổi ký ức. Hôm nay “trạch”. Ngày mai “chạch”. Rồi vài chục năm sau biết đâu lại đổi nữa. Mà chính sự không đứng yên ấy mới làm tiếng Việt còn sống.
Bởi vậy tôi mới bật cười khi nghĩ tới “khô cá trạch”. Nghe kỳ thiệt. Có thể “trạch” xã giao hơn, seminar hơn, nghe như đã mặc sơ mi bỏ trong quần. Nhưng tới lúc phơi cá, treo từng xâu khô dưới mái tôn, nhậu chiều, bán ngoài chợ, nghe tiếng rao dọc quốc lộ từ Biên Hòa xuống Bạc Liêu, qua Bắc Mỹ Thuận, thì nó lại trở về: “Khô cá chạch đây…” Không ai rao:
“Khô cá trạch đây!”
Nghe không vô.
Vì “khô cá chạch” lúc ấy không còn là taxonomy nữa. Nó là khẩu khí. Nó là oral memory. Nó là texture miền Nam. Nó là thứ language đã dính nước mắm, dính khói bếp, dính tay người bán cá ngoài chợ chiều.
2
Có lẽ tới đây tôi mới bắt đầu thấy khẩu khí thật ra sâu hơn pronunciation rất nhiều. Nó không chỉ là cách phát âm. Nó là ký ức cơ thể. Có những chữ người Việt không thật sự “nói”. Họ sống nó từ nhỏ tới lớn. Một bà mẹ miền Nam hỏi rất nhẹ:
“Ăn cơm hông con?”
thì trong chữ “hông” ấy đã có nhiệt độ căn bếp rồi. Có tiếng chén đũa chạm nhau. Có mùi cá kho. Có ánh đèn vàng yếu yếu cuối buổi chiều. Có một kiểu thương yêu không đi qua philosophy nào hết mà đi thẳng vào cổ họng con người.
Nếu đổi thành: “Con có ăn cơm không?” thì information vẫn y nguyên. Grammar vẫn đúng. Nhưng hơi người mất bớt một chút. Cái texture thân mật tan đi một chút. Giống như một món ăn bị thay nước mắm bằng soy sauce công nghiệp. Không sai hẳn. Nhưng không còn cùng atmosphere nữa.
Có lẽ vì vậy mà càng lớn tuổi tôi càng thấy language không nằm trong dictionary trước tiên. Nó nằm trong nhiệt độ của đời sống. Có những chữ chỉ cần nghe là nguyên một vùng ký ức mở ra. Một ông Bắc già nói: “Thế à?” nghe khác hẳn một ông Nam già nói: “Vậy hả?”
Cùng một meaning. Nhưng khác khí hậu tình cảm.
Mà cái chuyện ấy rất khó giải thích cho những hệ thống linguistics quá sạch. Vì nhiều khi ngôn ngữ Việt Nam hoạt động bằng hơi người nhiều hơn bằng logic. Một chữ nghe đúng chưa chắc đã nghe sống. Một pronunciation nghe chuẩn chưa chắc đã nghe gần.
Có những đứa nhỏ Việt Nam lớn lên ở nước ngoài nói tiếng Việt grammar rất đúng mà vẫn làm ông bà thấy “thiếu thiếu” cái gì đó. Không phải vì vocabulary. Không phải vì syntax. Mà vì khẩu khí chưa nhập vào cơ thể. Language của chúng còn nằm trong đầu nhiều hơn nằm trong người.
Cho nên tôi bắt đầu nghĩ khẩu khí là phần khó di cư nhất của tiếng Việt.
Người ta có thể mang theo dictionary. Mang theo recipe. Mang theo sách vở. Nhưng rất khó mang theo nguyên cái atmosphere âm thanh của một vùng đất. Tiếng dép lẹp xẹp trên nền gạch sau cơn mưa. Tiếng “hông” cuối câu của má. Tiếng “dzô nghen” lúc cụng ly. Tiếng rao kéo dài dưới trời chiều. Những thứ ấy không chỉ là sound. Nó là civilization compressée trong âm thanh.
Mà nghĩ kỹ thì đó cũng là lý do người Việt lưu vong hay bị ám bởi tiếng rao. Chỉ cần nghe: “Bắp nướng đây…”
hay: “Ai chè đậu đen hông…” là nguyên childhood mở ra liền. Vì khẩu khí đi thẳng vào tầng ký ức cơ thể nhanh hơn hình ảnh rất nhiều.
Television có thể standardize pronunciation.
Nhà trường có thể standardize orthography.
Nhưng rất khó standardize khẩu khí.
Nó sống dai như cỏ nước.
Nó nằm dưới language chính thức như lớp phù sa nằm dưới nền xi măng. Chỉ cần gặp đúng hơi nóng, đúng mùi nước mắm, đúng tiếng quạt máy rè rè buổi trưa, là nó ngoi lên lại ngay.
Có lẽ vì vậy mà tôi càng ngày càng thấy tiếng Việt giống một đồng bằng hơn là một hệ thống ngữ pháp. Một vùng nước nhiều lớp. Một language luôn đổi dòng. Một language không chịu đứng yên.
Giống cá chạch.
Mà biết đâu chính vì không chịu đứng yên nên nó còn sống tới bây giờ.
3
Mà càng nghĩ tôi càng thấy television thật ra chỉ chuẩn hóa được phần bề mặt của tiếng Việt thôi. Nó chuẩn hóa pronunciation đủ để cả nước hiểu nhau. Nó làm mềm bớt những góc quá địa phương. Nó tạo ra một thứ language trung gian cho quốc gia hiện đại. Nhưng phía dưới lớp chuẩn hóa ấy, khẩu khí vẫn tiếp tục sống đời riêng của nó, như nước ngầm dưới đồng bằng.
Một xướng ngôn viên có thể đọc rất chuẩn: “Chương trình thời sự đến đây là hết.” Nhưng lúc về nhà, gọi điện cho má, rất có thể vẫn: “Má ăn cơm chưa?”
hay:“Má phẻ (khỏe) hông?”
Mà cái “hông” ấy mới là nơi con người thật sự trú ngụ.
Có lẽ vì vậy mà nhiều ngôn ngữ hiện đại càng ngày càng sạch, còn tiếng Việt thì chưa sạch nổi. Nó còn giữ lại quá nhiều bùn ký ức bên trong. Có những chữ tồn tại chỉ vì hơi người chưa chịu bỏ chúng. “Hổng”, “bển”, “dzậy”, “ngoải”, “hổm rày”… tất cả những chữ ấy nhiều khi đã thua trong school grammar từ lâu rồi. Nhưng chúng chưa chết. Chúng sống trong bếp. Trong quán cà phê. Trong bàn nhậu. Trong tiếng chửi yêu. Trong những cú điện thoại đường dài lúc nửa đêm.
Language chính thức nhiều khi sống trên giấy.
Khẩu khí sống trong hơi thở.
Đó là lý do tôi không bao giờ tin tiếng Việt sẽ trở thành một hệ thống quá standardized như vài ngôn ngữ Tây phương. Nó quá humid. Quá nhiều phù sa. Quá dính đời sống vật chất. Nó giống một nền văn minh còn nghe bằng tai nhiều hơn đọc bằng mắt.
Có những dân tộc sống trong stone civilization. Người Việt sống trong water civilization. Điều đó thay đổi cả texture của language. Một nền văn minh đá dễ đi tới architecture, monument, fixity. Một nền văn minh nước thì trôi hơn, mềm hơn, drift hơn. Chữ nghĩa cũng vậy. Chúng không đứng yên. Chúng đổi dòng liên tục như nước ròng nước lớn.
Có lẽ vì vậy mà tiếng Việt rất khó đóng thành hệ tuyệt đối. Người ta làm dictionary, làm grammar, làm orthography, nhưng language thật ngoài đời vẫn cứ quẫy. Hôm nay television đọc kiểu này. Mai TikTok kéo đi kiểu khác. Một streamer miền Tây có thể làm cả đám trẻ Sài Gòn nói lại một chữ cũ. Một câu nói ngoài chợ có thể sống dai hơn cả một campaign ngôn ngữ quốc gia.
Mà nghĩ kỹ thì chuyện ấy đâu mới bắt đầu bây giờ. Từ thời xa xưa tiếng Việt đã sống kiểu đó rồi. Nó luôn vay mượn, luôn lai, luôn trượt, luôn đổi khí hậu khi đi ngang vùng đất khác. Có những chữ gốc Hán nhưng vào Nam rồi mềm xuống như cá gặp nước. Có những chữ Khmer nằm im trong miền Tây tới mức nhiều người dùng hằng ngày mà không biết mình đang nói một lớp language khác. Có những pronunciation nghe tưởng “sai”, nhưng thật ra chỉ là dấu tích của một dòng migration cũ còn sót lại trong cổ họng.
Cho nên càng già tôi càng ít tin vào chữ “đúng” trong language. Tôi tin vào chữ “sống” hơn.
Một pronunciation sống là một pronunciation còn mang hơi người. Còn mang geography. Còn mang ký ức tập thể. Còn nghe được mùi mồ hôi, mùi nước mắm, mùi khói bếp và cả tiếng quạt máy cũ quay lệch bạc đạn trong buổi trưa miền Nam.
Mà nghĩ tới đó tự nhiên tôi lại nhớ tiếng rao: “Khô cá chạch đây…”
Tiếng rao ấy không có trong grammar book nào hết. Nhưng nó chứa nguyên một civilization. Nó chứa:
quốc lộ, mái tôn, mùi nắng, mùi khô,
và cái phần chưa chịu standardized hoàn toàn của tiếng Việt.
Có lẽ vì vậy mà language này còn sống dai đến thế.
Giống cá chạch.
Càng nắm chặt, nó càng quẫy khỏi tay mình.
4
Ngoài trời mưa đã dứt từ lâu mà mái tôn vẫn còn nhỏ từng giọt rất chậm. Television mở nhỏ tới mức gần như chỉ còn ánh sáng chớ không còn là âm thanh nữa. Một xướng ngôn viên nào đó vẫn đang đọc bằng thứ tiếng Việt rất chuẩn, rất trung ương, rất ngay hàng thẳng lối. Nhưng ngoài đầu hẻm, xa xa, tự nhiên lại có tiếng ai kéo dài: “Dzô nghen…”
Không hiểu sao nghe hai chữ ấy tôi lại thấy buồn nhẹ. “Dzô” thật ra đâu có nghĩa gì lớn lao. Nó chỉ là một lời mời cụng ly, một tiếng gọi bàn nhậu, một chút hồ hởi rất dân gian của miền Nam. Nhưng nhiều khi cả một civilization nằm gọn trong một chữ như vậy. Nếu đổi thành “Vào nhé” thì grammar vẫn đúng, nghĩa vẫn đúng, nhưng hơi người mất gần hết. Giống như thay nước mắm bằng một thứ sauce công nghiệp. Không sai hẳn, nhưng atmosphere biến mất.
Có những chữ sinh ra không phải để viết. Chúng sinh ra để sống. “Dzô nghen” thuộc loại đó. Nó không nằm yên trên giấy đẹp lắm. Nhưng đặt giữa mấy người bạn già ngồi dưới mái hiên lúc trời vừa tạnh mưa, bên dĩa khô cá chạch nướng khét nhẹ và vài ly rượu đế, tự nhiên nó đúng tuyệt đối. Trong hai chữ ấy có tình bằng hữu, có sự suồng sã, có mùi khói, có mồ hôi, có tiếng quạt máy quay rè rè và cả cái cách người miền Nam chạm vào nhau bằng âm thanh.
Có lẽ vì vậy mà khẩu khí sống lâu hơn người. Một bà má mất rồi mà chữ “hông” còn ở lại. Một ông già miền Tây chết rồi mà cái “dzô nghen” vẫn còn vang trong đám giỗ. Một người lưu vong nằm xuống ở Bắc Mỹ rồi mà tiếng “ăn cơm chưa?” vẫn còn sống trong đầu con cháu như một thứ warmth không dịch nổi sang tiếng Anh.
Grammar chết nhanh hơn khẩu khí nhiều. Orthography thay đổi được. Dictionary sửa lại được. Nhưng khẩu khí nằm sâu hơn. Nó nằm trong cơ thể, trong reflexe, trong cách một người bật cười, chửi thề, mời ăn, gọi con, nhớ quê. Nó là phần cuối cùng của language còn dính sinh học con người.
Mà nghĩ tới đó tự nhiên tôi hiểu tại sao mình cứ bị ám bởi “khô cá chạch”. Vì thật ra tôi đâu còn viết về cá nữa. Tôi đang cố giữ lại một chút khẩu khí Việt Nam trước khi nó trôi mất. Một tiếng rao. Một chữ “hông”. Một tiếng “dzô nghen”. Một chút bùn còn dính dưới lưỡi.
Có lẽ cuối cùng tiếng Việt không nằm trong tự điển. Nó nằm trong những vibration humaines rất nhỏ ấy. Rồi một ngày nào đó mình cũng mất thôi. Nhưng biết đâu đâu đó, dưới một mái tôn nào khác sau cơn mưa, vẫn còn ai đó kéo dài một tiếng: “Khô cá chạch đây…” Và một người khác sẽ đáp lại rất nhẹ: “Dzô…”
Ngoài trời mưa đã dứt từ lâu mà mái tôn vẫn còn nhỏ từng giọt rất chậm. Television mở nhỏ tới mức gần như chỉ còn ánh sáng chớ không còn là âm thanh nữa. Một xướng ngôn viên nào đó vẫn đang đọc bằng thứ tiếng Việt rất chuẩn, rất trung ương, rất ngay hàng thẳng lối. Nhưng ngoài đầu hẻm, xa xa, tự nhiên lại có tiếng ai kéo dài: “Dzô nghen…”
Không hiểu sao nghe hai chữ ấy tôi lại thấy buồn nhẹ. “Dzô” thật ra đâu có nghĩa gì lớn lao. Nó chỉ là một lời mời cụng ly, một tiếng gọi bàn nhậu, một chút hồ hởi rất dân gian của miền Nam. Nhưng nhiều khi cả một civilization nằm gọn trong một chữ như vậy. Nếu đổi thành “Vào nhé” thì grammar vẫn đúng, nghĩa vẫn đúng, nhưng hơi người mất gần hết. Giống như thay nước mắm bằng một thứ sauce công nghiệp. Không sai hẳn, nhưng atmosphere biến mất.
Mà nghĩ cho cùng thì chữ “dzô” cũng là một con cá chạch khác của tiếng Việt. Nó không chịu đứng yên trong orthography. Viết “vô” cũng được. Viết “dzô” cũng được. Có người còn viết “dô”. Grammar không biết xử sao cho thật sạch. Nhưng ngoài đời người ta vẫn nói. Vẫn cụng ly. Vẫn cười. Vẫn nghe đúng. Nghĩa là language vẫn sống bình thường mặc cho tự điển hơi bối rối.
Đó là chỗ tôi thấy tiếng Việt rất lạ. Nó không hoàn toàn phục tùng chữ viết. Nhiều ngôn ngữ hiện đại càng ngày càng bị orthography thống trị. Người ta nhìn chữ trước rồi mới nghe âm thanh sau. Còn tiếng Việt nhiều khi ngược lại. Âm thanh vẫn kéo chữ chạy theo nó. Người ta viết “dzậy”, “hông”, “hén”, “nghen”, “trỏng”, “ngoải”, không phải vì họ dốt chính tả. Họ đang cố cứu lại khẩu khí bằng chữ viết.
Mà chuyện ấy rất cảm động.
Vì thật ra alphabet Latin đâu sinh ra cho tiếng Việt. Nó chỉ là cái áo mặc sau này. Bên dưới cái áo ấy vẫn còn một nền civilization rất nước, rất hơi người, rất oral. Thành ra nhiều khi chữ viết không ôm hết được âm thanh. Người ta phải bẻ chữ đi một chút để cứu pronunciation sống ngoài đời.
Có lẽ vì vậy mà tôi không bao giờ thấy khó chịu khi nhìn ai viết “dzô nghen”. Ngược lại, tôi thấy có cái gì còn sống trong đó. Một người nào đó đang cố kéo nguyên cái giọng nói ngoài bàn nhậu lên mặt giấy. Đang cố giữ lại hơi thở trước khi language bị làm sạch quá mức.
Mà cái “làm sạch” ấy đôi khi cũng đáng sợ. Một language quá sạch nhiều khi bắt đầu chết. Nó trở thành museum language. Đúng hết. Chuẩn hết. Nhưng không còn nghe mùi người nữa. Không còn nghe tiếng dép kéo trên nền gạch. Không còn nghe tiếng cười nửa say. Không còn nghe tiếng “hổng” buột ra lúc quên phòng thủ xã hội.
Tiếng Việt may mắn là chưa tới mức ấy.
Nó vẫn còn bùn.
Nó vẫn còn trượt.
Nó vẫn còn để cho một chữ như “dzô” sống sót ngoài rìa orthography chính thức mà không thấy mắc cỡ lắm.
Có lẽ vì vậy mà càng già tôi càng thích nghe người ta nói chuyện hơn là đọc status. Một tiếng “hén” đúng chỗ nhiều khi chứa nhiều humanity hơn nguyên một paragraph viết chuẩn grammar. Một bà già gọi: “Lại ăn cơm nè con…” nhiều khi sâu hơn cả một bài philosophie về tình mẫu tử.
Vì khẩu khí là phần cuối cùng language còn dính thịt da.
Có lẽ cuối cùng tiếng Việt không nằm trong tự điển. Nó nằm trong những vibration humaines rất nhỏ ấy. Một tiếng “hông”. Một tiếng “nghen”. Một tiếng “dzô nghen” dưới mái hiên sau cơn mưa.
Ngoài đầu hẻm, tiếng rao đã xa dần rồi. Television vẫn sáng. Mái tôn còn nhỏ vài giọt nước cuối cùng sau cơn mưa. Tôi gỡ chậm một miếng khô cá chạch, rồi rất khẽ nói một mình:
“Dzô nghen…”
Mà thôi
Ngoài trời mưa đã tạnh hẳn. Television vẫn mở nhỏ trong góc nhà. Một xướng ngôn viên nào đó vẫn đang đọc bằng thứ tiếng Việt rất chuẩn, rất ngay hàng thẳng lối. Nhưng ngoài đầu hẻm, xa xa, tự nhiên lại có tiếng ai kéo dài: “Khô cá chạch đây…”
Tôi ngồi yên rất lâu.
Không hiểu sao tới tuổi này người ta bắt đầu nghe âm thanh khác hồi trẻ. Hồi trẻ người ta nghe nghĩa. Về già người ta nghe khí. Một chữ “hông”, một tiếng “nghen”, một câu “dzô nghen” tự nhiên mang theo nguyên một đời sống cũ quay trở lại. Có lẽ khẩu khí sống lâu hơn con người.
Một bà má mất rồi mà chữ “hông” còn ở lại. Một ông già miền Tây chết rồi mà tiếng “dzô nghen” vẫn còn vang đâu đó trong đám giỗ. Một người lưu vong nằm xuống ở Bắc Mỹ rồi mà tiếng rao ngoài chợ chiều quê cũ vẫn còn sống trong đầu con cháu.
Grammar chết nhanh hơn khẩu khí nhiều. Orthography sửa lại được. Pronunciation chuẩn rồi cũng đổi. Nhưng khẩu khí nằm sâu hơn. Nó nằm trong hơi thở, trong reflexe, trong cách một người gọi con, mời ăn cơm, cụng ly, nhớ quê.
Mà nghĩ tới đó tự nhiên tôi hiểu tại sao mình cứ bị ám bởi “khô cá chạch”. Vì thật ra tôi đâu còn viết về cá nữa. Tôi đang cố giữ lại một chút khẩu khí Việt Nam trước khi nó trôi mất.
Ngoài đầu hẻm, tiếng rao đã xa dần rồi. Television vẫn sáng. Mái tôn còn nhỏ vài giọt nước cuối cùng sau cơn mưa. Tôi gỡ chậm một miếng khô cá chạch, rồi rất khẽ nói một mình:
“Dzô nghen…”
Mà thôi.


